lạc hồng viên

Tổng quan: Đất nghĩa trang, công viên nghĩa trang Lạc Hồng Viên

I. Đất Nghĩa Trang, Công Viên Nghĩa Trang

Ở Việt Nam, khái niệm về đất nghĩa trang, nghĩa địa được hiểu là nơi an nghỉ của người đã khuất, hay còn có tên là “bãi tha ma” như quan niệm tâm linh của đa số người dân. Tuy nhiên trong khi đất nghĩa trang là khái niệm chỉ những phần đất được quy hoạch tập trung phục vụ mục đích chôn cất thì đất nghĩa địa là đất tuy cùng chung mục đích nhưng lại không có sự quy hoạch rõ ràng, còn rải rác, manh mún và tự phát là nhiều. Chính vì vậy, việc bố trí đủ quỹ đất để xây dựng nghĩa trang nhằm phát huy truyền thống văn hóa, thỏa mãn nhu cầu về tinh thần cho nhân dân là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất lâu dài trong tương lai.

Văn hóa thờ cúng tổ tiên cùng với lối suy nghĩ “sống sao chết vậy “ tạo nên những nét đặc trưng khi mai táng người chết. Thông thường khi gia đình có người mất, nghi thức cử hành tang lễ được tổ chức theo truyền thống.Sau khi cử hành tang lễ, người chết được chôn ngoài đồng. Địa điểm chôn có thể được xác định trước. Đây thường là những nghĩa trang đã có từ lâu đời. Hình thức mai táng này tồn tại nhiều khuyết điểm. Ví dụ như không đảm bảo vệ sinh môi trường, nghĩa trang không được quy hoạch dẫn đến tình trạng lộn xộn.

Xã hội hiện đại ngày nay, việc quy hoạch, thi công Công viên nghĩa trang là hạng mục không thể thiếu của xã hội hiện đại.Dân số tăng lên trong khi quỹ đất có giới hạn. Thêm vào đó việc mở cửa hội nhập cũng khiến suy nghĩ và tư duy của người Việt Nam tiến bộ hơn. Các công viên nghĩa trang được xây dựng như một lẽ tất yếu của sự phát triển. Những ưu điểm của loại hình nghĩa trang này là không thể phủ nhận. Nó giúp mọi thứ đi vào quy củ, nề nếp.

Lạc Hồng Viên

II.Cơ sở pháp lý về quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa

Quản lý đất nghĩa trang là một dạng quản lý đặc biệt mang tính văn hóa tâm linh sâu sắc do cơ quan Nhà nước, tổ chức, cộng đồng dân cư hoặc hộ gia đình, cá nhân thực hiện nhằm đạt được mục tiêu sử dụng đất tiết kiệm, đảm bảo vệ sinh môi trường, thỏa mãn nhu cầu về việc an táng của nhân dân và giữ được những phong tục tập quán tốt, văn minh, hiện đại. Sử dụng đất nghĩa trang là việc dùng quỹ đất để táng người đã chết (để xây các mộ phần, khu lưu trữ tro) và xây dựng các công trình phục vụ việc táng (nhà tang lễ, đài tưởng niệm, nhà hỏa táng, đường, hệ thống xử lý rác, nước thải,…). Việc táng người đã chết được tích tụ từ đời này qua đời khác, nếu không được quy hoạch và sử dụng một cách hợp lý thì việc lãng phí đất, ô nhiễm môi trường là tất yếu và nguy cơ thiếu đất cho người đang sống là điều dễ xảy ra trong tương lai không xa. Trong khi đó, quá trình đô thị hóa ngày càng mạnh mẽ, quỹ đất đòi hỏi phát triển đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp cũng theo đó mà tăng theo thời gian, quỹ đất nông nghiệp bị thu hẹp và diện tích đất dành cho nghĩa trang, nghĩa địa cũng bị ảnh hưởng, phải di dời sang vị trí khác, hoặc phải quy hoạch tập trung trên một diện tích nhỏ hơn. Do vậy, nếu thiếu sự quan tâm cần thiết về mặt áp dụng pháp luật liên quan, công tác quản lý bị buông lỏng sẽ dẫn tới việc sử dụng đất nghĩa trang bừa bãi, tạo nên rào cản không đáng có cho sự phát triển kinh tế – xã hội và gây ra những bức xúc, khiếu kiện trong nhân dân.

Trên cơ sở quy định tại Điều 162 Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 23/2016/NĐ-CP ngày 05/4/2016 của Chính phủ về Xây dựng, quản lý, sử dụng nghĩa trang và cơ sở hỏa táng đã quy định về nguyên tắc quản lý, sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa. Theo đó, tất cả các nghĩa trang, cơ sở hỏa táng phải được quy hoạch, việc quy hoạch, đầu tư xây dựng nghĩa trang, cơ sở hỏa táng phải tuân thủ pháp luật về quy hoạch, xây dựng, bảo vệ môi trường. Việc đầu tư xây dựng nghĩa trang, cơ sở hỏa táng được khuyến khích nhằm phục vụ cho nhiều địa phương, việc sử dụng hình thức táng mới văn minh, hiện đại nhằm góp phần tiết kiệm tối đa đất, kinh phí xây dựng và đảm bảo yêu cầu môi trường và cảnh quan xung quanh. Bên cạnh việc đầu tư xây dựng, việc quản lý đất nghĩa trang, cơ sở hỏa táng phải tuân thủ theo pháp luật về đất đai, tiết kiệm và hiệu quả; bảo đảm an toàn, an ninh và vệ sinh môi trường.

Nghị định số 23/2016/NĐ-CP ngày 05/4/2016 cũng quy định về việc táng được thực hiện trong các nghĩa trang, theo đó, trường hợp táng trong các khuôn viên nhà thờ, nhà chùa, thánh thất tôn giáo phải bảo đảm vệ sinh môi trường và được sự chấp thuận của UBND các cấp theo phân cấp của UBND cấp tỉnh. Đồng thời, việc táng phải phù hợp với tín ngưỡng, phong tục, tập quán tốt, truyền thống văn hóa và nếp sống văn minh hiện đại. Vấn đề vệ sinh trong mai táng, hỏa táng và vệ sinh trong xây dựng, quản lý, sử dụng nghĩa trang, cơ sở hỏa táng luôn được chú trọng và yêu cầu thực hiện theo quy định của Bộ Y tế.

III – Giải Pháp và Kiến Nghị

III.1. Giải pháp

Để việc quản lý đất nghĩa trang được thực sự có hiệu quả và đạt được những mục tiêu đặt ra, cần thực hiện các giải pháp sau:

Thứ nhất, cần sớm hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về đầu tư, xây dựng, quản lý, sử dụng đất nghĩa trang làm cơ sở pháp lý cho việc lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất nghĩa trang, quy hoạch xây dựng chi tiết các nghĩa trang, đảm bảo sử dụng đất nghĩa trang hiệu quả, tiết kiệm, hạn chế tối đa ảnh hưởng đến môi trường và phù hợp với phong tục, tập quán tốt của địa phương.

Thứ hai, xây dựng quy chế mẫu về xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang với khung nhất định về nội dung buộc UBND các cấp khi ban hành quy chế trên địa bàn phải đảm bảo khung nội dung cơ bản này.

Thứ ba, xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa làm cơ sở cho việc nghiên cứu, xây dựng quy hoạch sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa mang tính chất liên vùng.

Thứ tư, bổ sung quy định việc chuyển mục đích sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa đã được nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất cho các tổ chức tư nhân xây dựng nghĩa trang, ngoại trừ trường hợp Nhà nước thu hồi đất phục vụ cho các mục đích an ninh quốc phòng, công cộng theo quy định pháp luật.

Thứ năm, tạo cơ chế thực thi nghiêm pháp luật về đầu tư, xây dựng, quản lý, sử dụng đất làm nghĩa trang, nghĩa địa ở các cấp, các địa phương, đảm bảo các văn bản được thực thi có hiệu lực, hiệu quả. Bên cạnh đó, ban hành khung giá một số dịch vụ cơ bản tại các nghĩa trang để làm cơ sở cho các nghĩa trang xây dựng giá dịch vụ, tránh tình trạng thu phí dịch vụ quá cao.

Thứ sáu, xây dựng hệ thống đăng ký mộ, tiến hành cấp thẻ mộ cho thân nhân của người chết táng tại tất cả các nghĩa trang để đảm bảo quyền của các gia đình trong thời gian táng người thân cũng như khi Nhà nước thu hồi đất (tránh trường hợp mộ giả), phục vụ công tác quản lý, thống kê. Đóng cửa các khu nghĩa trang, nghĩa địa hết khả năng táng nhưng vẫn phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, ban hành quy mô diện tích tối thiểu của một nghĩa trang làm cơ sở cho việc di rời các nghĩa trang, nghĩa địa nhỏ lẻ, các mộ chí rải rác vào các nghĩa trang tập trung.

Thứ bảy, Nhà nước nên sử dụng công cụ tài chính (thông qua hệ thống thuế) để điều tiết thị trường quyền sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa, góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước, đảm bảo công bằng trong sử dụng đất, hướng người dân đến việc lựa chọn và sử dụng những phương thức táng mới văn minh, hiện đại, chi phí thấp và tiết kiệm đất.

III.2. Kiến nghị về quy hoạch đất

Đối với quy hoạch sử dụng đất

Khi xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất làm nghĩa trang, cần tiến hành thu thập các số liệu cần thiết như tỷ lệ tử vong, hiện trạng nghĩa trang, nghĩa địa, phong tục tập quán táng ở địa phương, định mức đất,… để tính toán nhu cầu sử dụng đất làm nghĩa trang sát với thực tế, tránh tình trạng quy hoạch dự phòng mang tính hình thức và ít có giá trị trong thực tiễn như thời gian trước đây.

Đối với quy hoạch xây dựng nghĩa trang

Quy hoạch địa điểm nghĩa trang là một nội dung của quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch chung xây dựng đô thị và quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn. Khi phê duyệt các quy hoạch này, cơ quan có thẩm quyền có nhiệm vụ:

Một là, xây dựng nghĩa trang đúng với quy hoạch sử dụng đất được duyệt;

Hai là ,xây dựng nghĩa trang hoàn chỉnh, đồng bộ (hệ thống hạ tầng kỹ thuật, các công trình nhà hỏa táng, nhà lưu giữ tro cốt, các công trình phục vụ, các công trình khác có liên quan), xác định công nghệ táng đảm bảo nhu cầu sử dụng trước mắt và lâu dài, đáp ứng đủ cho hoạt động và vận hành của nghĩa trang theo hướng văn minh, hiện đại, tiết kiệm đất và kinh phí xây dựng, giảm thiểu ô nhiễm môi trường;

Ba là, đánh giá tác động môi trường trong vận hành nghĩa trang: Quy định mật độ, khoảng cách và đường đi ngăn cách giữa các lô, phân khu và giữa các mộ phần để thuận tiện cho việc viếng thăm.

Việc quy hoạch hàng quán và giới thiệu sản phẩm phục vụ tang lễ, nông sản địa phương, lán trú mưa nắng  … trong khu vực nghĩa trang để đảm bảo sự tôn nghiêm và thành kính;

Việc thu gom rác thải nguy hại: nến cốc đã sử dụng, đài phát tụng kinh, pin năng lượng mặt trời để chạy đài tụng kinh, cây cỏ dại …. nếu không được thường xuyên thu gom, xén tỉa có nguy cơ gây sát thương, gây độc hại cho người viếng thăm và cán bộ, công nhân làm nhiệm vụ quản trang;

Bốn là, quy định về kích thước, kiểu dáng các mộ, bia mộ, hướng mộ, các yêu cầu đối với thiết kế công trình trong nghĩa trang;

Đối với việc cải tạo nghĩa trang

Các nghĩa trang phải được cải tạo khi vẫn còn phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng nhưng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cảnh quan, môi trường chưa phù hợp với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hiện hành. Xác lập ranh giới nghĩa trang theo quy hoạch đã được phê duyệt (nếu chưa có), cải tạo nâng cấp, phân lô các công trình hạ tầng, kĩ thuật trong nghĩa trang, đồng thời kết hợp trồng cây xanh bao quanh, cây xanh trong nghĩa trang;

Đối với việc di chuyển nghĩa trang

Di chuyển nghĩa trang trong trường hợp không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; gây ô nhiễm môi trường, cảnh quan nghiêm trọng mà không có khả năng khắc phục.

IV – Công Viên Nghĩa Trang Lạc Hồng Viên : Công Viên Vĩnh Hằng